Lưu trữ

Posts Tagged ‘TTTH’

2012 – Năm Alan Turing

(Phạm Trà Ân – Viện Toán học)

Năm 2012, cộng đồng các Nhà toán học trên toàn thế giới sẽ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà toán học lỗi lạc Alan Turing (23/6/1912 – 7/6/1954). Alan Turing là nhà toán học đã có nhiều đóng góp to lớn cho các ngành Khoa học tính toán, Khoa học máy tính, Trí tuệ nhân tạo, Lý thuyết toán học của Tính tính được (the mathematical theory of computability) và Sinh học phát triển (developmental biology). Năm 1999, trước thềm của một thế kỷ mới, Tạp chí Time, một tạp chí hàng đầu của Mỹ, đã tổ chức bầu chọn 100 danh nhân có ảnh hưởng nhất trong Thế kỷ XX, Alan Turing đã lọt vào danh sách này. Ngoài ra ông còn có công lớn trong việc bẻ các hệ mật mã của Phát xít Đức trong Thế chiến thứ II, góp phần giúp phe Đồng minh giành được thế chủ động trên chiến trường và cuối cùng đã đánh bại lũ phát xít điên cuồng đã gây ra cuộc Thế chiến II.

Cuộc đời của Alan Turing lại là cuộc đời của một thiên tài mà phận bạc. Sự đối xử vô nhân đạo của chính phủ Anh đối với cá nhân ông đã dẫn ông đến tự tử ở tuổi 41, cái tuổi “vàng” của các nhà khoa học – kỹ thuật, trong một tấn thảm kịch hoàn toàn do sự ấu trĩ của con người gây ra (xem [1]).

Hơn 50 năm sau, tối ngày 10 tháng 9 năm 2010, Chính phủ Anh mới có lời xin lỗi chính thức Alan Turing trên trang web của Phủ Thủ tướng nước Anh. Các nhà toán học trên toàn thế giới cho rằng như thế là chưa đủ và yêu cầu Chính phủ Anh khôi phục lại danh dự và xét công nhận công lao đóng góp của Alan Turing trong Thế chiến thứ II. Và thế là xuất hiện sáng kiến đề nghị lấy năm 2012, năm kỷ niệm 100 năm năm sinh cuả Alan Turing là Năm Alan Turing. Nội dung hoạt động của Năm Alan Turing là trong suốt cả năm 2012 và ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới, các nhà toán học sẽ tổ chức các hoạt động khoa học, triển lãm, nói chuyện giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Alan Turing, giới thiệu các cống hiến của Alan Turing trong toán học và trong các lĩnh vực ứng dụng của toán học vào thực tiễn cuộc sống. Tất cả các hoạt động đã nói đến ở trên sẽ được tiến hành chủ yếu tại những nơi có gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Alan Turing như tại Cambridge, tại Manchester và tại Bletchley Park. Các hội nghị khoa học về Tin học lý thuyết, về Khoa học – Máy tính và về Mật mã học tổ chức trong năm 2012 sẽ giành một phần chương trình, để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Alan Turing.

Ban Điều hành của Năm Alan Turing, tên viết tắt trong giao dịch quốc tế là TCAC (Turing Centenary Advisory Committee), đã được thành lập. Trong Ban Điều hành có các nhà khoa học và các nhân vật hoạt động xã hội nổi tiếng như nhà toán học S. Barry Cooper (Chủ tịch), nhà viết tiểu sử Turing Andrew Hodges, Wendy Hall, người đầu tiên ngoài khu vực Bắc Mỹ được bầu làm Chủ tịch Hội Máy tính ACM (tháng 07/2008), Hugh Loebner, người sáng lập ra Giải thưởng Loebner về Trí tuệ nhân tạo, nhà điều khiển học Kevin Warwick, . . . . Danh sách các thành viên của TCAC còn đang tiếp tục được bổ sung thêm. Ban Điều hành cũng đề nghị các nhà toán học trên toàn thế giới đề xuất thêm các hình thức hoạt động mới của Năm Alan Turing.

Năm Alan Turing cũng đã được sự ủng hộ của các đoàn thể và của các hội khoa học như: Hội Máy tính Anh (British Computer Society), Hội Lôgic hình thức (Association for Symbolic Logic), Hội Khoa học máy tính lý thuyết châu Âu” (European Asociation for Theoretical Computer Science), Hội Kurt Godel.

Ban Điều hành đã cho ra mắt bản tin của “Năm Alan Turing”. Bạn đọc có thể truy cập và đọc các bản tin này tại địa chỉ www.mathcomp.leeds.ac.uk/turing2012/

Tạp chí Thông tin Toán học cùng cộng đồng các nhà toán học Việt Nam xin chào mừng và xin chúc “2012 – Năm Alan Turing” thành công tốt đẹp.

Tài liệu tham khảo
1. Phạm Trà Ân, Lời xin lỗi muộn màng của chính phủ Anh đối với một nhà toán học. TTTH, tập 13, số 4 (2009),6-10.
2. Wikipedia (the encyclopedia), Alan Turing Year.
3. Các bản tin của ATY

Nguồn: Tập san Thông tin Toán học Tập 15, số 2.

Advertisements
Chuyên mục:Toán học Thẻ:, , ,

Toán học Việt Nam đứng ở đâu (tập san TTTH)

Toán học Việt Nam đứng ở đâu?

Lê Tuấn Hoa (Viện Toán Học)

Vấn đề xếp hạng nền Toán học Việt Nam chưa được ai đặt ra. Và thực tế cũng sẽ không bao giờ có được một bảng xếp hạng chính xác nào, bởi lẽ có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó vấn đề chất lượng nghiên cứu đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hơn nữa đây không phải là kì thi đấu thể thao, nên nếu có hơn nước nào đó 5-10 bậc thì cũng chẳng có gì đáng tự hào hay kém 5-10 nước nào đó cũng chẳng có gì xấu hổ, bởi vấn đề chính là khả năng đóng góp của Toán học Việt Nam đối với phát triển của đất nước (về mọi mặt: kinh tế, giáo dục…) như thế nào. Phân tích so sánh ở đây chỉ nhằm xác định vị trí tương đối của Toán học Việt Nam, giúp chúng ta có một cách nhìn sơ bộ từ một góc cạnh nào đó. Trên cơ sở đó mỗi người sẽ có suy nghĩ và hành động của mình để góp phần đưa Toán học nước nhà tiến cao hơn.

Cách tiếp cận ở bài này giống như ở bài [1], tức là chúng tôi dựa vào thống kê số liệu củaMathSciNet (gọi tắtMSN). Với cách thức này, khi xét đến công trình của mỗi nước (kể cả nước ta), chúng tôi dựa vào mã của nước đó. Dĩ nhiên như đã nhận xét ở bài [1] từ số công trình thực hiện bởi tác giả Việt Nam, chỉ khoảng hơn nửa số công trình có mã VN-, tức là sẽ được tính tới trong các bảng thống kê ở
bài này. Tuy nhiên sẽ là hợp lý, khi chúng tôi giả thiết rằng điều tương tự cũng đúng với các nước đang phát triển, vì nhiều người của họ cũng có quãng thời gian dài làm việc ở nước ngoài (tại các nước phát triển). Như vậy mọi nước (chưa phát triển về Toán) đều bị “thiệt” như nhau theo kiểu thống kê này, và do đó không ảnh hưởng tới sự so sánh tương quan.

Bảng 1. Các nước của IMU từ nhóm 2 trở lên

Nhóm 1 (chọn lọc) Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
1. Bulgaria2. Hong Kong

3. Romania

4. Serbia

5. Argentina6. Austria

7. Chile

8. Denmark

9. Egypt

10. Finland

11. Ireland

12. Mexico

13. Portugal

14. Slovakia

15. S. Africa

16. Ukrain17. Australia

18. Belgium

19. Czech

20. Hungary

21. Iran

22. Norway23. Brazil

24. India

25. S.Korea

26. Netherlands

27. Poland

28. Spain

29. Sweden

30. Switzerland31. Canada

32. China

33. France

34. Germany

35. Israel

36. Italy

37. Japan

38. Russia

39. UK

40. USA

Hiệp hội Toán học thế giới (IMU) hiện có 68 nước bao gồm hầu hết các quốc gia có phát triển Toán học. Hội được chia thành 5 nhóm nước. Về mặt nguyên tắc, nước ở nhóm cao hơn thì có trình độ phát triển cao hơn. Tuy nhiên cũng có thể có vài ngoại lệ. Đó là vì muốn lên nhóm cao hơn thì phải đóng
hội phí hàng năm cao hơn. Vì vậy có thể có những hội toán học thành viên có thể được xếp cao hơn, nhưng vì không đủ tiền đóng hội phí, nên không dám đăng kí xét tăng bậc. Việt Nam hiện ở nhóm thấp nhất – nhóm 1 gồm 32 nước. Như vậy về mặt nguyên tắc toán học Việt Nam đứng sau 36 nước thuộc các nhóm cao hơn. Trên thực tế, khi điểm danh các nước này (xem Bảng 1), chúng ta chỉ dám nghi ngờ không chắc 5 nước sau đã hơn Việt Nam: Ai Cập, Ireland, South Africa, Iran và Korea. Chẳng hạn Hàn Quốc khoảng những năm 70 không ai nghĩ là hơn ta, mà bây giờ lại ở nhóm 4, nên dễ gây nghi ngờ. Tuy nhiên những so sánh cụ thể ở Bảng 2 khẳng định rằng sự phân chia của IMU vẫn
chính xác! Ngoài ra không cần kiểm tra thì 4 nước trong nhóm 1 nêu ở Bảng 1 cũng mạnh hơn hẳn Toán học nước ta. Như vậy, nước ta chắc chắn đứng sau 40 nước ở Bảng 1.

Bảng 2: Công bố 5 năm của một số nước ở nhóm 1 và một số ít nước không thuộc IMU (được đánh dấu +)

STT Tên nước 2001 2002 2003 2004 2005
1 Korea (nhóm 4) KR 1068 1137 1254 1261 1254
2 +Taiwan RC 652 738 712 751 826
3 Greece GR 477 593 578 595 611
4 Turkey TR 342 384 510 590 573
5 Iran (nhóm 3) IR 238 316 368 409 473
6 Singapore SGP 389 366 371 368 382
7 Egypt (nhóm 2) ET 268 329 400 378 367
8 Ireland (nhóm 2) IRL 217 236 238 290 313
9 South Africa (nhóm 2) SA 261 309 268 280 302
10 New Zealand NZ 242 278 280 272 296
11 + Belarus BE 306 360 330 305 290
12 Croatia CT 126 125 131 131 204
13 Slovenia SV 118 179 153 131 204
14 Saudi Arabia SAR 161 145 194 178 199
15 + Azerbaijan AZ 122 126 139 166 198
16 Georgia GE 212 226 182 200 155
17 Lithuanania LI 131 134 121 162 153
18 Venezuela LI 134 119 124 95 141
19 Vietnam VN 103 116 110 125 120
20 + Algeria DZ 54 44 44 70 110
21 Amenia AR 77 127 110 149 103
22 Kazakhstan KZ 78 103 103 92 90
23 Estonia ES 92 64 74 93 82
24 + Uzbekistan UZ 89 88 78 104 77
25 Tunisia TN 49 53 63 64 71
26 + Moldova MO 44 54 47 45 47
27 + United Arab Emirates UAE 16 27 35 54 34
28 Uruguay UR 31 34 32 28 30
29 Latvia LA 24 12 38 25 29
30 Bosinia and Herzegovinia BS 8 8 9 6 17
31 Iceland ICE 18 15 19 15 15
32 Tajikistan TJ 8 12 10 7 12
33 Kyrgyzstan KY 5 1 0 1 2

Bảng 2 tiếp theo xét công trình công bố trong 5 năm 2001-2005. Lý do không chọn 3 năm gần đây vì như bài [1] đã nói, MSN không kịp thống kê hết những công trình đã đăng trong 3 năm đó, còn những công trình trước năm 2006 thì có thể nói đã liệt kê hết. Ở bảng này cũng xét tới thành tích công bố của một số nước có nền Toán học khá, nhưng chưa gia nhập IMU. Việc xếp thứ tự dựa vào năm 2005, mặc dù không thật chính xác, nhưng cũng tương đối đúng. Qua bảng này ta thấy Việt Nam đứng thứ 19, nếu trừ đi 5 nước đã kể trên (thuộc nhóm 2-5), thì Việt Nam đứng ở vị trí 14. Kết hợp với trên thì Toán học Việt Nam đứng ở vị trí 54.

Dĩ nhiên khi xét như vậy, ta có thể nghi ngờ một số nước như Arập Xêut, Ai cập, Venezuela, Nam Phi. . . Thật vậy, khi xem kĩ hơn danh sách bài báo ở một số nước như thế, ta có thể thấy ở đó có rất nhiều báo không tên tuổi. Nhưng mặt khác cũng có thể hiểu được là ở những nước đó có nhiều người “đánh thuê”, tức là những nhà toán học Châu Âu đến đó dạy thời gian dài. Do vậy, mặc dù số lượng công trình của họ có vẻ nhiều hơn hẳn của Việt Nam, nhưng khi nói chuyện với các đồng nghiệp quốc tế, chúng tôi không thấy họ đề cao những nước đó. Toán học Việt Nam có thể ít hơn, nhưng được nhắc tới nhiều hơn, có lẽ vì có bản sắc hơn: do chính người Việt Nam làm. Ngược lại, một số nước cộng hòa cũ của Liên Xô như Acmênia, Kadăcxtan, Udơbekistan, mặc dù xếp sau ta trong Bảng 1, nhưng trên thực tế chưa chắc đã xếp sau chúng ta, vì rất có thể ở đó có một số nhà toán học xuất sắc hay 1-2 trường đại học tốt.

Nói tóm lại, mọi sự sắp xếp chỉ là tương đối mà thôi. Qua phân tích trên có thể nói Toán học Việt Nam đứng khoảng thứ 50 – 55 trên thế giới.

Có thể nói đây là một thứ hạng còn khá khiêm tốn. Chú ý rằng khoảng cách giữa các nước trong tốp đứng đầu là rất xa nhau. Cho nên khi kém người ta vài chục bậc thì có thể nói khó mà cạnh tranh được gì. Vì vậy, muốn Toán học nước ta có đóng góp hữu hiệu cho đất nước, thì phải phấn đấu để Toán học nước ta đứng được vào hàng tiên phong của thế giới, tức khoảng thứ 20-30.

Để tiến thêm 1-2 bậc thì có thể dễ (một phần cũng vì sự phân chia không chính xác), nhưng để tiến thêm 10-20 bậc thì phải có chiến lược đúng đắn và đòi hỏi thời gian dài. Tuy khó khăn như vậy, nhưng điều đó không phải là không thể thực hiện được. Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Những năm 70, Hàn Quốc chưa chắc đã hơn ta. Mà nếu có hơn cũng không nhiều. Nhưng họ tiến nhanh đến nỗi, trước khi có thống kê này, chúng tôi vẫn nghĩ rằng họ vẫn sàn sàn chúng ta và rằng ta ở nhóm 1 vì không có đủ tiền đóng hội phí. Bảng thống kê 2 cho thấy trên thực tế họ đã gấp 5-10 lần chúng ta. Một bước tiến thần kì, đáng để chúng ta suy ngẫm và định hình chiến lược.

Lời cám ơn: Sau khi viết bài [1], tôi đã nhận được một số phản hồi, trong đó có thông tin nói rằng bài báo đầu tiên của cố GS Lê Văn Thiêm là bài:

MR0021974 (9,139a) Le-Van, Thiem; Beitragzum Typenproblem der Riemannschen Fl¨ achen. Comment. Math. Helv. 20, (1947). 270—287 (Tiếng Đức).

chứ không phải ba bài trong năm 1949 nêu trong [1]. Tác giả xin chân thành cám ơn anh Đào Phương Bắc đã phát hiện ra điều này, và báo cho tác giả biết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Tuấn Hoa, Một cái nhìn sơ bộ về nghiên cứu Toán học của nước ta, TTTH Tập 12 Số 4 (2008), tr. 2.
[2] http://www.mathunion.org/members/countries

Chuyên mục:Toán học Thẻ:,